Những khoảnh khắc lịch sử | Nhiều tác giả
Dat Phuong Nam Ngay Cu - Tran Bao Dinh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:47' 22-03-2024
Dung lượng: 881.3 KB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:47' 22-03-2024
Dung lượng: 881.3 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
ĐẤT PHƯƠNG NAM NGÀY CŨ
Tác giả: Trần Bảo Định
Thể loại: Truyện ngắn, Văn học
Nhà xuất bản: NXB Hội Nhà Văn
Đóng ebook: nguyenthanh-cuibap
Nguồn text: Waka - 07/05/2018
ÐÊM PHÙ SA CHÂU THỔ
1.
Trời chuyển mưa chớp giựt, Tư chìa vôi níu chặt be xuồng vỏ
gòn và có ảo giác mặt nước sông nghiêng. Anh Sáu tỉnh bơ, ngồi hút
thuốc sau lái chờ bạn hàng tới nhận hàng. Tư chìa vôi đâm lo: “Sắp
mưa, anh Sáu không kêu mình che đậy, rủi ướt đồ đạc, hàng bông ướt
ráo nạo, sao trời!”. Thình lình, trời ngưng gầm gừ sấm nổ, tự dưng
chớp giựt lặng trang. Trời quang mây tạnh. Anh Sáu “đi guốc trong
bụng” thằng Tư, có điều anh chưa nói ra đó thôi! Tư ở phương xa,
mới tới xin “đi bạn” chưa “quen nước quen cái” thì nói chi quen
phong thổ đồng bằng.
Đợi chở chuyến hàng bận về và chờ con nước, anh rủ Tư lên bờ
kiếm cái gì mần lai rai cho đỡ buồn miệng. Tư giữ phận, không dám
vượt ranh chủ tớ. Anh Sáu vỗ vai Tư, rồi cười bằng mắt:
– Trong việc mần ăn, người Nam Bộ coi nhau là “bạn”. Tui mời chú
em đi “kéo ghế”. Ghế ở đây, thuộc loại ghế đẩu tuy không sang
nhưng cũng vừa đủ ấm lòng kẻ thương hồ.
Anh Sáu ngó bộ dạng và cặp giò ốm tong teo, cao lêu nghêu của Tư
chẳng khác mấy cái chìa vôi ngoáy trầu; hèn gì đám “đi bạn” chung
với nó, gọi nó “Tư chìa vôi”. Bước lên thân cây dừa đẽo rãnh bực
thang, Tư cúm rúm sợ trợt chưn té.
Thềm quán cao, Tư ngồi ghế đẩu ngó bến sông thấy chiếc xuồng vỏ
gòn giống hệt vỏ trái gòn trong khu vườn nhà ở Quảng Yên. Tư cố
giấu cảm xúc chạnh lòng ly hương, quay sang hỏi anh Sáu:
– Khi nãy, sao anh gọi đi “kéo ghế”?
– Thì, gốc gác của tui cũng từ ngoài đó vô đây!
Ánh mắt xa xăm, anh buông thõng một câu:
– Đã hơn ba đời người, chớ ít ỏi gì đâu!
Dường như muốn né tránh xúc động, anh hớp ngụm rượu rồi nói
lảng sang chuyện mưa nắng.
– Miền phù sa châu thổ có năm tháng mưa, bảy tháng nắng. Nếu,
gió mùa Tây Nam đem mưa về thì, gió mùa Đông Bắc mang nắng hạn
đến. Và, xứ Rạch Giá bao giờ cũng được trời mưa sớm hơn các nơi
khác độ mươi ngày, nửa tháng.
– Anh nói chi? Tui không hiểu!
Anh Sáu lắc lắc chai rượu, rót đều đôi chén bằng nhau.
– Theo chuyện kể dân gian, sở dĩ Rạch Giá uống nước trời mưa
sớm vì, nó “hứng ngọn gió Tây Nam đầu tiên” và cũng bởi, trời sanh
cây giá mọc đôi bờ hai con rạch ăn thông nhau nhằm bảo vệ đất cù lao
không trôi ra biển. Cây giá khát nước mưa, trời chìu như sự thưởng
công giữ đất. Lưu dân từ ngũ Quảng vô khẩn hoang lập điền, nghe
thấy vậy, đồng tình đặt tên miền đất mới là cù lao Giá. Đất sống nhờ
nước, cù lao phát triển nhờ rạch. Rạch trữ nước ngọt cận kề biển chứa
nước mặn nên người đời tôn vinh rạch: Ngăn mặn, giữ yên bờ cõi. Từ
đó, thiên hạ gọi Rạch Cây Giá; lâu ngày dài tháng, chữ “Cây” rễ lút
sâu lòng đất chỉ còn hai tiếng gọn hơ: Rạch Giá!
Chủ hàng chất hàng gửi đã xong, con nước anh Sáu chờ cũng vừa
kịp tới. Lúc xuồng tách bến, anh Sáu cười và nói lớn:
– Trời gầm gừ, chớp giựt vào tháng cuối năm... Tui không kêu chú
em che đậy hàng vì, hiểu trời hù dọa chơi; chớ nếu mưa trái mùa, chả
lẽ trời tạo cớ xúi giục vạn vật trần gian đảo điên, ly tán à!
***
Tính ra thì, Tư chìa vôi cũng đã đi bạn với anh Sáu hơn ba cái Tết.
Tư quen dần cảnh vật, nếp sống sông nước miền Nam. Anh Sáu nhiều
lần nhắc nhở: “Cần “để”, không cần “giữ” ý tứ. Nhiêu đó, đủ hòa
nhau và được thuận lòng”. Rồi anh dặn: “Để” phải tinh tường, “giữ”
cái phải giữ, không câu nệ. Anh Sáu thương Tư vì tánh nết hơn vì
cảnh ngộ. Bản chất dân sông rạch không tùy hứng, ngẫu nhiên mà từ,
kinh nghiệm thực tế khi lựa chọn nơi ăn chốn ở cho phù hợp với môi
trường tự nhiên. Anh Sáu nói thêm cho Tư “để ý”:
– Dòng chảy con sông như sợi dây thiên nhiên cột ràng xóm ấp vì
nhà cất: “tiền sông, hậu ruộng”. Chú em nghiền ngẫm rồi sẽ hiểu ra.
Biết đâu sau nầy nó hữu ích khi, chú em muốn chọn nơi lập thân.
Chuẩn bị chở chuyến hàng đêm, Tư hối hả tắm gội, giặt giũ áo
quần trên cây cầu ván gie ra mé sông ở bến sông. Bên kia liếp vườn,
nắng táp hỗn hàng cau mềm rũ lá, thứ nắng người ta thường nói:
“Nắng quái chiều hôm”!
2.
Đêm phù sa đen tối mặt.
Chiếc xuồng vỏ gòn bốn chèo chở hàng về Rạch Giá. Xuồng lướt
gió nước thuận trên dòng kinh xáng Xò No băng ra sông Cái Lớn. Thị
trấn Gò Quao xưa kia, có tên chữ Đại Hà huyện đã ngái ngủ êm đềm
dưới trời sao đồng bằng. Từ sau lái, anh Sáu nhắc:
– Chú em! Cẩn trọng khi tới khoảng giữa rạch Cái Tư, một nhánh
sông Cái Lớn và rạch Cần Thơ ăn ngang thị tứ Vị Thanh.
Tư hiểu ý anh Sáu nhắc “cẩn trọng” là cẩn trọng cái gì. Khoảng
giữa rạch Cái Tư và rạch Cần Thơ tạo nên vùng “đất mật”, dân tứ xứ
đổ xô về kiếm sống, dân chuyên nghề “bối” và “ghe quan” cũng lảng
vảng mò tới kiếm ăn. Ông bà mình thường nói: “Có mật có ruồi, theo
ruồi sẽ đến cầu tiêu”. Bởi vậy, vùng “đất mật” cũng là vùng “đất
đắng”.
– Dạ! Tui biết rồi, anh Sáu!
Tư vừa chèo vừa căng mắt quan sát. Sông nước im ắng lạ thường,
thỉnh thoảng có tiếng cú kêu hoặc tiếng vạc kêu sương rời rạc... Người
nghe ai mà chẳng sợ, chẳng chạnh lòng. Tư mong và rất mong, có
tiếng hò của ai đó, vào lúc nầy, cái sợ sẽ tan đi và lòng thì, bớt chạnh.
Tư nhớ những chi tiết do anh Sáu chỉ vẽ: “Ghe hầu khác ghe điệu
cả hình dáng lẫn kẻ sử dụng. Ghe hầu của đám quan lại, ghe điệu của
bọn giàu có. Ghe điệu mũi lái chạm trổ, kèo mui sơn phết son vàng.
Ghe hầu tàng lọng, về đêm đèn đuốc sáng choang. Hễ nhác thấy hai
loại ghe đó, né lẹ tránh xa; kẻo “tai bay vạ gió”.
Xuồng đang lướt mái chèo ngon trớn. Bỗng, anh Sáu la thất thanh:
“Bát! Bát!...” âm vang giựt dội mặt nước. Chiếc ghe trước mũi chẳng
những không chịu “cạy”[1] mà nó, lao xắn tới. Trên ghe lố nhố năm,
bảy thằng bôi mặt giấu tông tích, chực chờ nhảy qua xuồng. Không
kịp trở tay chèo, Tư la chói lói:
– Bối! Bớ người ta, bối... b... ố... i...
Lấy hết sức bình sinh trung niên, anh Sáu cố “cạy” chiếc xuồng.
– Rầm! Rầm! R... ầ... m...!
Tư văng xuống kinh. Mũi xuồng quay mòng mòng đâm vô chiếc
ghe neo bờ không treo đèn báo hiệu. Đồng thời, cùng lúc, chiếc ghe
của đám “Bối” đụng thẳng hông xuồng. Trời tối, giơ bàn tay không
thấy!
***
– Giờ Tý canh Ba, Bá hộ đi đâu qua hướng rạch Cái Tư?
Huyện Heo nghiêm sắc mặt, hỏi Bá hộ Thao.
– Dạ! Bẩm quan anh, em... e... m...
Bá hộ Thao cà lăm cà lặp một hồi mới nói được, rằng: “Em lặn lội
đêm hôm sương gió là để kiểm tra bất thình lình bọn tá điền bê trễ
việc tá túc[2]”. Huyện Heo ngồi tréo ngoảy, tay xe xe sợi lông tài mọc
trên mụt ruồi đen mép phải miệng. Bởi, huyện Heo thừa biết âm mưu
của thằng Thao “mượn tay quan cướp ruộng đất thằng Sáu”.
Đời trước, ông bà anh Sáu khẩn hoang được mươi mẫu đất và qua
nhiều mùa cấy cày, đất trở nên “ruộng mứt”. Rủi cho gia đình anh,
“ruộng mứt” đó lại nằm cặp ranh đất Bá hộ Thao.
Huyện Heo đập tay xuống bàn.
– Đi kiểm tra bọn tá điền bê trễ việc tá túc, hay léng phéng đi thông
dâm với vợ thằng Biện Tình vậy, ông Bá hộ?
Bị huyện Heo điểm ngay chóc huyệt, Bá hộ Thao đứng chết trân,
trán rịn lấm tấm mồ hôi. Quán tính “đầu trộm đuôi cướp” có từ buổi
chập chững hành nghề trộm bất chợt hiện về, giúp Bá hộ Thao kịp lấy
lại bình tĩnh.
– Thì, em cũng vì muốn mang lợi lộc dâng tặng quan anh, đó thôi!
Miễn sao, quan anh xử nó đi tù và bắt nó bán nhà cửa, ruộng vườn lo
chạy án, lo phí tổn sắm lại cái ghe điệu cho em.
Cặp mắt giống mắt heo của huyện quan lạnh lùng ngó lên trần nhà,
giọng nói không xì hơi qua đôi hàm răng khít rịt:
– Bá hộ khinh khi quan quá mức, tù mọt gông đó, nha!
Nói xong, quan chắp tay sau đít, đi tới đi lui, mặt tai tái, đóng kịch
giận dữ.
– Đẩy vào thế kẹt, nó bán mình mua theo giá mình định. Mình có
cướp giựt của nó đâu, quan rầy rà em quá thể!
Bá hộ Thao tức mình thầm nghĩ: “Mình với va mần ăn nhiều năm,
nào phải lần đầu. Ngay vợ thằng Biện Tình, va cũng mần banh chìa
sứt gọng. Chuyện bọn bối lộng hành khúc sông về miệt Cái Tư cũng
chính va giao kèo bán bãi cho chúng. Lạ thiệt, sao hôm nay, va trở
chứng?”. Nghĩ thì nghĩ vậy, sợ sẩy mồi và hỏng việc mần ăn với quan,
Bá hộ Thao chơi bài ngửa:
– Em bỏ tiền mua, quan khỏi lo!
Bấm bụng nói vậy, chớ trong bụng Bá hộ Thao tiếc tiền hùi hụi và
chẳng phải, Bá hộ Thao mù tịt lai lịch huyện Heo. Huyện quan xuất
thân Hương quản làng Hòa Hưng, họ tên cúng cơm Lê Văn Nạo, con
Lê Văn Ráo. Dân Hậu Giang thời đó, không ai không ngán
“cặp bài trùng Ráo – Nạo”. Tuy đụng gì ăn đó, nhưng ở vùng phù sa
châu thổ không có cái ăn nào ngon lành hơn “ăn đất” và, ăn đất khỏi
cần cạp. Tía con thằng Nạo cố sức ăn sạch sành sanh, ăn ráo nạo; ăn
đến đỗi thành danh: “Heo, ăn như heo”!
Huyện Heo vỗ vai Bá hộ:
– Thôi được, cứ vậy mà mần!
Bầy chim sẻ đậu mái hiên huyện đường, vụt bay tán loạn!
3.
Sau cái đêm hãi hùng đó, anh Sáu bị bắt. Chị một nách nuôi ba con
nhỏ và chăm sóc má chồng. Tư chết đứng, chứng kiến cảnh nhà chị sa
sút dần và có lẽ, chuyện “táng gia bại sản” chỉ là thời gian. Lớp nào
đền tiền chủ hàng, lớp nào bỏ tiền sửa “ghe điệu” của Bá hộ Thao
đang đêm “đi khám điền thổ”; chưa kể “tiền lót lại, đút quan”... hòng
cứu chồng thoát vòng lao lý! Lần hồi, chị cắn răng bán nhà cửa, ruộng
vườn để trang trải nợ nần. Chị nuốt lệ, má chồng khóc hết nước mắt;
còn anh thì, được huyện Heo “chụp cho cái mũ” đội chơi, gỡ bốn
cuốn lịch kể cả năm nhuận, không bớt một ngày, về cái tội “Bối ghe
điệu”; nghĩa là, cướp ghe Bá hộ Thao (!?)
Ghe lui khỏi bến còn dầm
Người thương đâu vắng chỗ nằm còn đây.
(Ca dao)
Đêm khuya khoắt, lời ru con của chị Sáu buồn man mác. Hẳn là, lời
đựng tâm ý thuộc về mẹ, tiếng ru chứa âm điệu thuộc về con. Phù sa
châu thổ từ sông nước mà mênh mông, tình con người từ cảnh ngộ
mà lai láng. Và, “Mật ngọt còn tổ chết ruồi/ Những nơi cay đắng là nơi
thiệt thà”. Họa phúc cùng chia, Tư chẳng thể quay lưng bỏ đi khi chủ
sa cơ thất thế.
Tư gom số tiền tích cóp, dành dụm bấy lâu “đi bạn” đưa cho chị
Sáu mượn dựng quán ở giáp nước rạch Cái Tư. Má chồng chị Sáu, nói:
– Chỗ nào giáp nước, chỗ đó tấp nập xuồng ghe ngược xuôi ghé lại.
Trước là, vô hàng quán ăn uống, nghỉ ngơi qua chuyến đi dài. Sau là,
đợi con nước để đi tiếp. Nó cũng là đầu mối nghe ngóng, trao đổi
“đường đi, nước bước” và, truyền miệng rất nhanh đủ thứ chuyện
trên đời... Người ta gọi đó là, “chợ thông tin”.
Hỏi ra, Tư mới biết, chỗ giáp nước là chỗ con sông đổi con nước.
Buổi trưa, đám trẻ con xóm chợ rủ nhau tắm sông, đứa thả ngửa,
đứa trầm nghịch ở bến đậu ghe xuồng tạo nên hoạt cảnh náo nhiệt,
người buồn mấy cũng vui lây. Tư nhớ lời anh Sáu: “Nghèo khó không
bó cái lạc quan”. Phải rồi, một khi cái lạc quan bị bó thì, “chó cũng bỏ
đi” nói chi tới người. Anh Sáu gặp nạn do nghề hay do nghiệp? Tư
không sao giải nổi. Noi gương người xưa, Tư mượn rượu “phá thành
sầu”. Thành sầu bị phá ở đâu chẳng thấy, chỉ thấy cái sầu đốt cháy
tâm can.
– Bánh lái gãy, xuồng cần tay chèo tỉnh táo. Gia cảnh tui giờ rối
như canh hẹ; suốt ngày chú nhậu li bì... Tui biết mần sao?
Tiếng chị Sáu buồn buồn, nửa khuyên nửa trách.
Tư nhớ hồi chiều, anh em bàn nhậu hỏi:
– Tư chìa vôi, chú mầy thuộc loại “anh Hai xuồng ba lá” hay “anh
Ba ghe chài”?
Tư ngơ ngơ, ngáo ngáo giữa đám cùng “đi bạn”. Tới lúc về nhà học
lại cho chị Sáu nghe, Tư vỡ lẽ: “Xuồng ba lá là người uống được rượu
ít, ghe chài là người uống được rượu nhiều”. Đời cũng có lắm khi
công bằng: “Uống ít, say mau, tỉnh mau. Uống nhiều, say lâu, tỉnh
lâu”. Tư chợt nghĩ: “Kẻ sống đoản hậu sẽ mất cơ may trường phúc”.
Và, hạng người như Bá hộ Thao, dù điền sản mấy ngàn mẫu đất
chẳng kém gì ruộng đất của Tổng đốc Phương ở vùng Hỏa Lựu, Vĩnh
Hòa Hưng... cũng không có cơ may tận hưởng trường phúc, lộc; nói
chi tới trường thọ!
4.
– Nầy con! Giờ thì thằng Sáu đã thụ án, vợ nó cũng tạm sống “gạo
chợ nước sông” đắp đổi qua ngày bằng cái nghề buôn bán lặt vặt để
nuôi con, đợi ngày chồng về. Má tính như vầy, con coi có đặng
không?
– Tính sao, hả má!
Bà nói nhỏ nhẹ:
– Má tính tới mùa lúa sau, lãnh ruộng thầy Cai cho con mần tá
điền; với sức vóc và tính cần cù của con, rồi con chẳng thua kém ai.
Từ lâu, Tư coi má anh Sáu như mạ của mình. Lời má là lời chơn
tình, muốn Tư có việc làm ổn định. Nhưng, Tư không thích trở thành
tá điền để cả đời làm tôi mọi chủ điền. Những tháng năm “đi bạn” và
có lúc thúc thủ “ăn nhờ ở đậu” miền phù sa châu thổ, bằng trải
nghiệm tự nhiên và tự thân, Tư nhận ra “mái chèo, con thuyền” vẫn
hơn “tay cày, tay cuốc”. Sông nước cho người sự phóng khoáng, tự
do; còn đồng ruộng, cho người trực canh ruộng chủ để rồi đói nghèo,
nợ nần lưu cữu, không đủ lúa nộp lúa ruộng. Thân tá điền, dẫu cơ cực
sơn trường, cái ăn quanh quẩn cũng chỉ là: “Vai mang bông súng, tay
cầm củ co” (Ca dao).
– Dạ! Thưa má, con vẫn muốn nối tiếp trở lại cái nghề của anh Sáu.
Đợi anh Sáu ra tù rồi hẵng hay!
Tư rụt rè thưa chuyện với má. Mặt má buồn dàu dàu, chẳng nói
chẳng rằng, hồi lâu má mở lời:
– Má tuy là đàn bà chỉ có phận, không có danh nhưng, vì là người
cố cựu ở vùng nầy nên má biết nhiều chuyện. Đường đi sông rạch
chẳng thiếu cái cân luật lệ, chỉ thiếu cái tâm của người cầm cân. Con
“đi bạn” với thằng Sáu nhà má đã ba cái Tết, nếu con không để ý để
tứ thì, dù con có đi bạn hơn vài mươi cái Tết cũng bằng không. Chỉ là,
“chèo xuồng vọc nước” chẳng hữu ích gì cho tấm thân bám cuộc sống
thương hồ.
Rồi, má chép miệng than thở:
– Luật lệ đường thủy càng chất chồng đống, xuồng ghe càng khốn
đốn trên sông. Má già rồi, không có đứa nào chịu nghe má. Thằng Sáu
nhà nầy, không nghe má mới ra nông nỗi!
***
Tiếng trở mình của chị Sáu, tiếng ho sù sụ của má chồng chị, Tư
thức giấc.
Nằm im trên cái phảng nẹp tre, Tư lắng nghe từng cơn gió lẻ loi
nghịch con nước nơi giáp nước, thổi thốc mái lá xạc xào nửa khuya.
Đâu cứ hễ vấp ngã trên con đường mình đã chọn thì, con đường đó
hẳn là sai. Tư nghĩ lung lắm! Má nói chẳng sai nhưng, cái chẳng sai đó
còn tùy thời. Xuồng ghe coi vậy, vẫn là cái thuộc về mình; đồng ruộng
“thẳng cánh cò bay” dẫu sao, vẫn là cái thuộc về người. Tư cân phân,
nhắc lên bỏ xuống lúc buộc phải đối mặt với sự chọn lựa: Thương hồ
hay tá điền! Và, bất chợt, Tư nghe văng vẳng lời anh Sáu căn dặn hồi
nẳm: “Tiền sông, hậu ruộng” một khi đã tới lúc lập thân.
Tư bồi hồi nhớ thân côi cút từ nhỏ, cơ cực cũng lắm, đắng cay cũng
nhiều. Tuổi thơ của Tư thả theo dòng sông Bồ trôi qua vùng đất
Quảng Thọ. Xứ ruộng lúa mà quanh năm suốt tháng dân vẫn thiếu
ăn. Rồi, Tư nhớ anh Sáu, nhớ những chuyến đò dọc không chở người
chỉ chở hàng, nhớ trăng đồng bằng rụng xuống lòng nước lung linh,
mang bao câu hò tình tứ đầm đậm tình quê. Nỗi nhớ day dứt và mênh
mông! Tư rưng rưng nước mắt, giận Trời bất công: “Anh Sáu nào phải
kẻ gian, sao Trời bất dung?”.
Tư bước xuống bến sông, xuồng ghe đông ken nằm chờ con nước
và bầu trời, hằng hà sa số sao cũng không đủ sáng soi thấu đêm phù
sa châu thổ!
THƯƠNG QUÁ, BÀN TAY ÐEN CỦA MÁ!
1.
"Hồi ngoại còn sống, những lúc rảnh việc phơi lụa, ngoại
thường kể chuyện về má...” Khan nói giọng buồn buồn với Khát như
vậy. Mỗi lần lên chùa lạy Phật, “xin keo”, trên đường về, bao giờ hai
đứa cũng cùng im lặng trong suy nghĩ giống hệt nhau: “Cái tên khởi
sự từ “Kh”, có phải đó là điềm vận mạng gắn liền với “khổ” cuộc đời
chăng?”.
Còn cha còn mẹ thì hơn
Mất cha mất mẹ như đờn đứt dây.
(Ca dao)
Hai đứa ngu ngơ không biết và chẳng ai giải mã giúp hai đứa biết
tường tận, kể cả sư cụ chùa Từ Vân.
Ánh sáng tù mù khói muội đèn thiếu sức soi tỏ mặt người, nói chi
tới cảnh vật xung quanh. Bóng Khan chập chờn in vách lá. Bằng đôi
tay người thợ, Khan đưa kén vào nồi nước đun sôi; tiếng nước réo
ùng ục hay tiếng kén đau trở dạ để người thợ kéo mối tơ mắc vào
bánh xa quay! Khan lụi hụi, một tay cầm đôi đũa khuấy “liên tu” nồi
kén, một tay quay đều “bất tận” đầu bánh xe. Dừng tay khi, chỉ còn
lại xác con tằm và Khan thì, thở hổn hển, mồ hôi vã ra như tắm.
Khan ngồi dựa lưng cột nhà. Đêm sắp tàn canh!
***
Hai Hậu mồ côi từ nhỏ. Hàng xóm rủ nhau chuyền tay nuôi gọi là
“nuôi chuyền” và bú vú dạo, gọi là “bú nhép”. Tới tuổi nhổ giò, Hai
Hậu theo những người anh em rời đất Tịnh Biên lên Vồ thuộc núi
Cấm, không mần ăn mà mần quốc sự. Cuộc chống Tây bất thành,
Thiên Địa hội tan rã nhưng, bọn Tây cũng không thể nào càn và chiếm
được Năm Vồ[3], còn gọi Năm Chỏm cao hoặc Năm Non trên núi
Cấm. Hai Hậu cùng một ít người anh em nương náu ở miếu Gia
Long[4] và lẩn trốn trong khu rừng cây Thiên tuế, tiều phu hay gọi “vồ
Thiên Tuế”. Chịu không thấu “sơn lam chướng khí” của vùng núi non
Thất Sơn huyền bí, đôi lần, Năm Thiệt, Sáu Thà dợm rủ Hai Hậu quay
về Tịnh Biên nhưng, ngại lộ tông tích. Bí lối, cả ba đồng lòng trốn
xuống miệt Tân Châu sống nghề cơ bắp, kiếm cái ăn đắp đổi qua
ngày.
2.
– Bậu ngó gì ngó “người ta” dữ vậy!
Tư Nghĩa liến thoắng hỏi Hai Hậu, trong lúc đôi tay của Tư tỉ mẩn
kéo từng đường tơ, xe chỉ thành từng sợi liền lạc và hầu như, không
mắc phải một mối nào bị lỗi.
– Tui ngó bàn tay của “người ta”! Bàn tay đẹp mĩ miều làm nên lụa
láng mịn: “Ấm những ngày trời se se lạnh và mát những ngày nắng
hầm hập nóng!”.
Tư nghe tiếng đặng tiếng được bởi âm thanh khung cửi dệt rầm
rập, lấn át lời Hai Hậu.
Chiều bảng lảng trên cánh đồng dâu bát ngát! Chợt, có tiếng chàng
trai cất giọng hò ướm mời cô Tư Nghĩa:
Trai nào hiền bằng trai Hai Huyện
Tháng ngày chuyên dệt lụa trồng dâu.
(Ca dao)
Như thể cầm lòng không đậu, Tư mạnh dạn hò đáp trả liền miệng,
người Tân Châu gọi là “hò môi”:
Gái nào thảo bằng gái Tân Châu
Thờ cha kính mẹ quản đâu nhọc nhằn.
Chàng trai bên kia liếp vườn mặc nưa, nín bặt.
Tự dưng, Hai Hậu cảm thấy lòng mình se thắt lại. Nhỏ lớn, Hai
không quen nói thơ, nói truyện thì nói chi tới biết hò môi, hát miệng…
nên lòng luống những bán tín bán nghi. “Trai Hai Huyện” là trai gì
mà “tháng ngày dệt lụa trồng dâu”? Vậy, trai như mình chả lẽ không
phải trai trồng dâu dệt lụa? Trời khuya lắc khuya lơ, Hai thao thức
không sao chợp mắt được. Biết thằng đệ đương sa vào “tình trường”
vì đã phải lòng Tư Nghĩa, Năm Thiệt lồm cồm lật mí nóp, bò dậy.
Huynh đệ nói chuyện thầm. Ngoài kia, sóng sông Tiền dội bờ lúc nhặt
lúc khoan như thông nỗi cảm hoài cùng người xa xứ. Năm Thiệt nói:
– Theo bậc cao niên và giới thương hồ ở Chợ Mới (An Giang) thì
Hai Huyện còn được gọi miệt Chợ Thủ hoặc miệt Cù lao Ông
Chưởng; cũng có người lầm tưởng Chợ Thủ là chợ ở miệt Thủ Dầu
Một. Ông Chưởng chính là Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh[5]. Chẳng
có chi phải lo, dẫu rằng đệ chưa ở rể:
Công anh làm rể đốn rào
Tào lao phất ngọn, chớ nào vợ anh.
(Ca dao)
Thấy thằng đệ bó gối ngồi cú rũ, Năm Thiệt nhắc câu Tư Nghĩa
thường khi hò:
Giả đò mua khế bán chanh
Giả đi đòi nợ thăm anh đỡ buồn.
(Ca dao)
Trời rựng sáng. Tiếng cười giỡn rộ mé bến sông của “đàn thôn nữ”
đang xả lụa. Ý chừng có tiếng cô Tư hò, nhờ gió sớm gửi đến cho ai
đó:
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
(Ca dao)
***
Mỗi lần má nó vạch vú mớm sữa, con bé giẫy nẩy không bú dù
miệng khô, khát sữa… Tư Nghĩa lặng người, nhỏ từng giọt buồn trôi
theo dòng nước mắt ướt má con. Con bé năm tháng tuổi, kinh hãi khi
nhận ra cái màu đen tuyền phủ đôi bàn tay không thấy móng. Ngoại
đặt tên cháu là Khan. Có lẽ, vì thương ba của cháu, ngoại tỏ ý trách
cao xanh: Thằng rể không phải kẻ gian, sao nỡ xử nó cái kiểu “Trời
bất dung gian”! Còn bọn gian, nhiều hơn mặc nưa vào mùa trái giữa
tháng Năm lịch nhà nông thì, trời giả lơ ngoảnh mặt?
Hễ thấy bàn tay đen kịt của má, nó khóc ngất. Từ đó, người mẹ
không dám gần con, sợ làm tuổi thơ của con kinh động.
Ngoại kể rằng, cả xóm Long Hưng hầu như là “Ăn cơm đứng” bởi,
“Mần ruộng ăn cơm nằm/ Nuôi tằm ăn cơm đứng” (Tục ngữ). Thời
con gái má Tư của nó nổi tiếng giỏi giang. Ngoại đẻ ba đứa con, chết
hai... Tuy má Tư thứ tư nhưng, thứ tư đó là một. Ông ngoại mất sớm
vì lao lực. Bà ngoại cùng con gái, đùm túm nhau sống; chí thú theo
nghề nuôi tằm, dệt lụa trong xóm lụa nức tiếng lãnh Mỹ A.
Ngoại nói:
– Trước ngày “Loan phụng hoa chúc”, ba má con xin phép ngoại
sang đình Long Sơn thắp nhang thần bổn xứ. Trên đường về, ba con
nắm bàn tay tơ lụa của má con, rồi thề nguyền: “Qua đình ngả nón
trông đình/ Đình bao nhiêu ngói (tui) thương mình bấy nhiêu” (Ca
dao). Vậy mà, trời cao đành đoạn bắt ba con “đi về núi” sau một đêm
cảm lạnh sơ sài, khiến má con “đứt gánh giữa đường” đang khi “bụng
mang dạ chửa”. Má con “vượt cạn” một mình. Rồi, hai năm sau, ngoại
chịu cảnh “tre già khóc măng non”. Và, vĩnh viễn cháu ngoại của
ngoại, không còn dịp ngó thấy bàn tay đen kịt của má để kinh sợ!
Khan đã khóc như chưa bao giờ được khóc khi nghe ngoại kể về
má!
3.
Ngoại mất vào mùa bông mặc nưa trổ sắc vàng nhạt trên những
tầng cây cao trật ót. Bông cái đơn lẻ, bông đực từng chùm. Và, Khan
bây giờ cũng đã là thiếu nữ.
Những tàu lá dừa, những bãi cỏ xanh mượt... cõng những tấm lụa
sóng sánh phơi nắng đồng bằng trông lãng mạn, rất đẹp; nhưng,
chẳng thể lãng mạn và đẹp hơn lúc tằm chín mọng, đưa tằm lên bủa
giăng tơ. Đất trời Long Hưng vàng óng những bủa tơ tằm. Nắng
nghiêng màu chiều pha màu lam ngọc trái mặc nưa, một thứ trái “vừa
khó tính vừa chảnh, vừa nắng không ưa vừa mưa không chịu”; một
thứ trái lúc xanh dư nhựa, lúc chín tới hết nhựa; và chỉ thích đối xử
bạc bẽo, không thích nuông chìu. Nghĩ tới trái mặc nưa, lòng Khan
chùng xuống; nhớ má bao nhiêu thì Khan thương đôi bàn tay đen của
má bấy nhiêu. Đôi bàn tay đen đánh đổi miếng ăn trong trắng. Khan
đã từ chối bú sữa má và khóc ré kinh hãi khi thấy đôi bàn tay đen đó!
– Lẽ thường tình, nếu những gì cần mất mình cho mất để đạt chuẩn
đẹp cuộc đời thì, bàn tay đen tuyền của má đã tạo sự duy mỹ riêng có
lụa Tân Châu qua nhựa trái mặc nưa thành nhan sắc!
Khan suy nghĩ như vậy, lúc thẩn thơ một mình dưới những vòm
cây mặc nưa thân xù xì cổ thụ.
***
Chẳng hiểu vì sao Khan thích nghề nhuộm lụa. Một nghề cần sức
lực cơ bắp cánh đàn ông. Cái nghề mà ngày xưa, má của Khan chấp
nhận bỏ đôi bàn tay đẹp nhất xóm Long Hưng để cùng chồng nhuộm
lụa. Có người cho đó là, di truyền và cũng có người nói đó là, truyền
thống. Di truyền hay truyền thống, chẳng quan trọng đối với Khan.
Theo nghề của má, Khan thương bàn tay đen tuyền của má, thương
xóm quê nghèo và làm theo di nguyện của má: “Giữ vững thương
hiệu lãnh Mỹ A xứ sở!”.
Khát đứng đầu hồi nhà nói vọng sang, nhắc:
– Khan ơi! Đêm nay, trời có trăng, tụi mình tới phiên nện hàng rồi
đó, nhớ nha!
Lãnh muốn có độ bền, bóng loáng phải chịu lực nện từ búa gỗ lên
bề mặt sợi vải. Tiếng nện hàng nhịp nhàng trong đêm thanh vắng, tạo
cảm giác êm đềm, luyến láy hồn quê. Từng sợi tơ thấm đều, thấm sâu
màu đen bóng thì mười ngón tay người nhuộm cũng đen bóng như
sợi tơ kia. Và rồi, đôi bàn tay của Khan giờ đây nào khác chi đôi bàn
tay của má ngày trước.
Trong lúc nện hàng, bỗng nghe tiếng chàng trai giã trái mặc nưa hò
bóng gió:
Nện hàng em nện mạnh tay
Phải duyên chồng vợ anh mai mối mình.
(Ca dao)
Khan dư sức biết anh chàng đương hò đó là ai và rõ là ai, từng hò
“thả dê” qua ruộng dâu hàng xóm:
Quay tơ phải giữ mối tơ
Dù năm bảy mối cũng chờ mối anh.
(Ca dao)
Khát cười khúc khích:
– “Chịu đèn” rồi đó, bạn ơi!
như san sẻ nỗi cô quạnh của đứa bạn thân nhứt xóm.
***
Khan xòe bàn tay soi bóng đêm. Nỗi ám ảnh bàn tay đen của má ùa
về. Rồi ngày mai, con của con sẽ như con: “Khóc ré khi thấy bàn tay
đen...” dù bàn tay đen đó, chưa hề dơ và làm nên kỳ tích lừng danh
lụa quê nhà!
Bất chợt, đôi bàn tay đen bóng của Khan bám chặt lư hương thờ
má:
– Má ơi...!
CON NƯỚC MIỀN QUÊ
Phải ai giao hợp vợ chồng
Phải ngày con nước khó lòng nuôi con...
(Ca dao)
1.
Hai Xệ ngồi chò hỏ canh con nước dưới gốc bằng lăng già mọc
ven rạch Bắc Chang. Một con rạch thông nước từ sông Vàm Cỏ Tây
chảy qua làng mạc tới ngã tư Bào Môn, tạo cánh đồng phía Tây gò
Ông Giáo bạt ngàn ruộng lúa. Lắm người phương xa quá bước, thắc
mắc: “Sao lại phải canh ngày con nước?”. Thôn dân vốn gốc gò Bắc
Chiêng thời đàng cựu tới giờ, chỉ cười trừ chớ không giải thích bởi có
giải thích, chắc chi người phương xa đã hiểu.
– Xế rồi, mình! Vô nhà ăn cơm cái đã!
Nghe vợ gọi cơm, Hai nói vói theo:
– Thì, mình với sắp nhỏ cứ ăn cơm trước đi!
Ngoài rạch, nắng táp nước dội ngược bóng treo nắng lơ lửng lên
từng chòm cây, nách lá!
***
Tía thằng Hai dặn con:
– Mình sống được là nhờ nước và muốn được sống, phải biết giữ
nước ngọt, rồi nhẫn nhục mà gạn đục khơi trong. Nước có con chớ
tuyệt nhiên không có thằng, thiên hạ gọi là con nước. Con nhớ lấy nếu
thiệt lòng ham mần ruộng và mong mỏi trở thành thôn dân thứ thiệt.
Hai ngại hỏi vần lân với tía dù những lời tía dặn nó không rõ, nói
chi đến thông để hiểu.
Một hôm, chú Năm Tâm chèo ghe tam bản từ Mộc Hóa vô gò Năm
Chiêm thăm ruộng. Chú cháu gặp nhau ở cống Biện Minh. Rít mấy
hơi thuốc rê, chú Năm lau mồ hôi ướt mặt, hỏi nó:
– Lóng rày, tía má con khỏe không? Tía con, tính đã dễ chưa?
Tháng Chạp tiết trời trở lạnh trong cái nắng thiếu gắt, thừa gay,
khiến mình mẩy bứt rứt khó chịu. Nó bập bập điếu thuốc để xua bớt
phần bứt rứt nhưng vì chưa quen khói nên ho sặc sụa.
– Dạ! Mọi thứ tía con đều dễ, chỉ trừ...
– Chỉ trừ má con, phải hôn?
Chú Năm ngắt ngang lời nó và đế câu kết chắc nụi. Nó nguẩy
người không chịu.
– Tía con khó, rất khó chuyện nước nôi!
Năm Tâm nghe thằng nhỏ nói hơi lạ nếu không muốn nói là kỳ
cục! Thuở đời nay, đất Bắc Chiêng thuộc xứ Đồng Tháp Mười “nước
tới mùa, nước nổi tràn bản họng”. Rồi bất chợt, ông ngẫm và nghĩ ra
cái sự đời “con nước” ở miền đất “sáu tháng đi chưn, sáu tháng đi
tay”[6].
Dân Bắc Chiêng hồi trước lúc có Thiên hộ Dương khởi cuộc chống
Tây, họ bấm lóng tay tính con nước như là, lực tương tác của ba cái
mặt: Trăng – Trời – Đất. Và cũng từ đó, họ tính chuyện may rủi trong
cuộc sống thường ngày. Con nước lên tự nó không xấu, nói chi tới hổ
thẹn. Điều xấu và hổ thẹn cốt ở “Ngày con nước lên”.
Ngày con nước lên chính là, hành động của Tạo hóa!
– Chú Năm ơi, chú nghĩ gì mà sắc mặt nghiêm trọng giống “Bao
Công xử án Quách Hòe” do gánh hát bội “Sóng Vang” hát, hôm cúng
kỳ yên ở đình làng, vậy chú?
Thằng Hai vô tình phá đám làm đứt khúc dòng suy nghĩ của Năm
Tâm, đương ngon trớn chảy băng băng về phía trước.
2.
Cột xong dây vàm mũi ghe tam bản vô gốc tràm, Năm Tâm bước
qua cầu nước rửa chưn, rồi theo Hai Xệ leo lên cái nhà nửa dính liền
đất, nửa chồm ra mé rạch.
– Chú Năm mầy, tới chơi!
Ông Chín Cứng, tía thằng Hai, đánh tiếng chào rôm rả.
Gió lùa nắng nhảy xổm vào nhà khua lụp cụp, lạc cạc hệt tiếng
nước cơm sôi, tai ai nghe mà cầm đặng lòng không đói bụng.
– Mình ơi! Lo cơm trưa cho chú Năm, thằng Hai, nha!
Đoạn ông bước tréo mở cửa hông tủ thờ, lôi hũ rượu ngâm bìm
bịp.
– Chú Năm mầy, khởi động đi!
– “Tiên chủ hậu khách”, chớ anh!
Một người cao niên đương “gần đất xa trời”, một kẻ trung niên
đương “lưng chừng trời đất” cùng phá lên cười, tiếng cười dội vách
nẹp tre gây thanh âm rộn ràng phải lẽ tình thâm.
Thằng Hai lực tráng niên, lui cui lo phụ má dưới bếp.
– Má! Hồi ban sớm, con nghe lén chú Năm nói lầm thầm ba cái
mặt: “Trăng – Trời – Đất”. Vậy, ba cái mặt là mặt sao, hả má?
Bà Chín cười, nụ cười hiền như cục đất.
Thời gian trôi qua gần bằng thời gian củi thành than tàn lửa, bà
chậm rãi nói với con:
– Trời có cái mặt thì, Trăng và Đất tại sao không? Trăng – Trời –
Đất ở thế chưn vạc, kiềng ba chưn. Nếu là “Bửu”, hẳn là “Tam Bửu”;
nếu là “Ngôi”, hẳn là “Ba Ngôi”; nếu là “Nước”, hẳn là “Tam quốc”...
Khi Trời – Trăng kết hợp và nhất là, lúc Trời chìu lòng Trăng thì, Đất
hoàn toàn bị Trăng khống chế bằng lực hút. Nước từ Đất trồi lên.
Có tiếng hối thúc dọn cơm của ông Chín, bà ngưng ngang câu
chuyện đương nói với thằng con.
***
– Mình sống vùng sông rạch nhờ nước, phải hiểu con nước mới
sống được, nha chú Năm!
Rượu vào lời ra, ông Chín Cứng nhắc người bạn trung niên của
mình. Thằng Hai đứng xớ rớ hóng chuyện và chờ tía sai vặt.
– Hồi nãy, má con mầy thì thầm chuyện gì mà xem ra tương đắc?
Ông bỏ bộ xoay qua hỏi thằng Hai. Nó thuật lại chuyện Trời –
Trăng – Đất của má nó nói nhưng, chỉ nói nửa chừng... không phải
“để cho thằng dại nửa mừng nửa lo”, chỉ là, vì tía hối dọn cơm.
Ông cười banh càng tấm lá chằm thảo bạt chống cửa. Ông ngộ ra:
Má thằng Hai tuy dốt chữ nhưng sáng dạ, những gì ông nói bà nghe
và thuộc lòng. Hễ thuộc cũng có nghĩa nhuyễn nhừ, chẳng thể nào
quên!
– Nước lên từ những ngày Trăng non và Trăng tròn. Nước có lên
thì, tất nhiên phải có xuống và nước xuống, thường rơi vào thứ bảy
của tuần Trăng.
Năm Tâm góp chuyện theo kinh nghiệm nhà nông theo dõi con
nước. Ông Chín tiếp lời:
– Đất chẳng hề thụ động chịu trận cho Trăng chủ động hút. Trăng –
Đất tương tác cùng hút lẫn nhau và chỉ có vậy, nước trào lên... Sống
trên mặt Đất, Người tránh sao khỏi tương tác, tránh sao khỏi liên lụy.
Bà Chín réo thằng Hai xuống bếp, giúp một tay bưng thêm thức ăn.
– Mời chị Chín cùng ăn cơm luôn thể!
– Chú ăn cơm với tía thằng Hai. Lát nữa, má con tui ăn sau.
Bà nói lời thiệt tình và nhắc chồng: “Rót tiếp rượu cho chú Năm, đi
ông!”. Bầu không khí vui và ấm, ngập căn nhà đơn sơ ngó ra cánh
đồng tràn nắng. Bà muốn nói với tía thằng Hai và chú Năm, rằng:
“Trăng – Đất càng gần nhau, sức hút càng mãnh liệt. Sức hút càng
mãnh liệt thì, với thể trạng con người hầu hết tám mươi phần trăm là
nước, tránh sao thoát khỏi sự kích động và chao đảo!”.
Ngồi nép mé bộ ván, bà suy nghĩ mông lung về điều kỳ diệu có khi
đưa đến sự mê diệu do Thượng đế tạo ra. Trong lúc đó, trên mâm
cơm ông Chín đương cắt nghĩa: Trăng non, Trăng chín, Trăng già
hoặc giả Trăng đầu, Trăng rằm, Trăng cuối. Trăng gần Đất hơn Trời,
lợi thế đó khiến Trăng hấp lực Đất kinh động; đồng thời đè nặng Tâm
– Sinh – Lý con người.
Nghe ông nói, bà đỏ mặt thầm. Bởi, những đêm trăng non, trăng
tròn lòng bà luôn luôn rạo rực... Tâm tính thay đổi, lời suồng sã, hành
vi thiếu kiểm soát; may là tía thằng Hai cũng vậy. Nếu không, qua
đêm trăng chắc bà mắc cỡ chết!
Năm Tâm hỏi ông Chín:
– Rõ là, “Con nước” vốn riêng có của thôn dân xứ mình?
– Phải đó, chú!
Dân gian xứ nước nổi của tụi mình lưu truyền: Ngày con nước lên
là ngày cực xấu, mần chi cũng chẳng đặng. Vì vậy, mới có câu “Dù ai
buôn bán trăm nghề/ Phải ngày con nước đi về tay không” (Ca dao).
Con nước có lúc thịnh lúc suy, lúc lớn lúc ròng, lúc ươn lúc nhửn, lúc
giáp lúc chia... Thời Trăng, tùy Đất mà sinh Âm – Dương (?).
– Trăng xoay con nước, trăng tác động con người. Chẳng ngẫu
nhiên mà ông bà mình dặn: “Trai mùng một, gái hôm rằm/ Nuôi thì
nuôi vậy, nhưng căm dạ nầy” (Ca dao), trong việc sinh con đẻ cái.
Lý cùng lẽ tận, nước là sự sống nhưng, con nước mới là cách sống
trong sự sống. Bà muốn nói điều đó, sợ e rằng, tía thằng Hai và chú
Năm cho bà lên đời dạy đạo, nên thôi!
SÀI GÒN CHẨN TẾ TRAI ÐÀN
1.
Tôi vốn người Sài...
Tác giả: Trần Bảo Định
Thể loại: Truyện ngắn, Văn học
Nhà xuất bản: NXB Hội Nhà Văn
Đóng ebook: nguyenthanh-cuibap
Nguồn text: Waka - 07/05/2018
ÐÊM PHÙ SA CHÂU THỔ
1.
Trời chuyển mưa chớp giựt, Tư chìa vôi níu chặt be xuồng vỏ
gòn và có ảo giác mặt nước sông nghiêng. Anh Sáu tỉnh bơ, ngồi hút
thuốc sau lái chờ bạn hàng tới nhận hàng. Tư chìa vôi đâm lo: “Sắp
mưa, anh Sáu không kêu mình che đậy, rủi ướt đồ đạc, hàng bông ướt
ráo nạo, sao trời!”. Thình lình, trời ngưng gầm gừ sấm nổ, tự dưng
chớp giựt lặng trang. Trời quang mây tạnh. Anh Sáu “đi guốc trong
bụng” thằng Tư, có điều anh chưa nói ra đó thôi! Tư ở phương xa,
mới tới xin “đi bạn” chưa “quen nước quen cái” thì nói chi quen
phong thổ đồng bằng.
Đợi chở chuyến hàng bận về và chờ con nước, anh rủ Tư lên bờ
kiếm cái gì mần lai rai cho đỡ buồn miệng. Tư giữ phận, không dám
vượt ranh chủ tớ. Anh Sáu vỗ vai Tư, rồi cười bằng mắt:
– Trong việc mần ăn, người Nam Bộ coi nhau là “bạn”. Tui mời chú
em đi “kéo ghế”. Ghế ở đây, thuộc loại ghế đẩu tuy không sang
nhưng cũng vừa đủ ấm lòng kẻ thương hồ.
Anh Sáu ngó bộ dạng và cặp giò ốm tong teo, cao lêu nghêu của Tư
chẳng khác mấy cái chìa vôi ngoáy trầu; hèn gì đám “đi bạn” chung
với nó, gọi nó “Tư chìa vôi”. Bước lên thân cây dừa đẽo rãnh bực
thang, Tư cúm rúm sợ trợt chưn té.
Thềm quán cao, Tư ngồi ghế đẩu ngó bến sông thấy chiếc xuồng vỏ
gòn giống hệt vỏ trái gòn trong khu vườn nhà ở Quảng Yên. Tư cố
giấu cảm xúc chạnh lòng ly hương, quay sang hỏi anh Sáu:
– Khi nãy, sao anh gọi đi “kéo ghế”?
– Thì, gốc gác của tui cũng từ ngoài đó vô đây!
Ánh mắt xa xăm, anh buông thõng một câu:
– Đã hơn ba đời người, chớ ít ỏi gì đâu!
Dường như muốn né tránh xúc động, anh hớp ngụm rượu rồi nói
lảng sang chuyện mưa nắng.
– Miền phù sa châu thổ có năm tháng mưa, bảy tháng nắng. Nếu,
gió mùa Tây Nam đem mưa về thì, gió mùa Đông Bắc mang nắng hạn
đến. Và, xứ Rạch Giá bao giờ cũng được trời mưa sớm hơn các nơi
khác độ mươi ngày, nửa tháng.
– Anh nói chi? Tui không hiểu!
Anh Sáu lắc lắc chai rượu, rót đều đôi chén bằng nhau.
– Theo chuyện kể dân gian, sở dĩ Rạch Giá uống nước trời mưa
sớm vì, nó “hứng ngọn gió Tây Nam đầu tiên” và cũng bởi, trời sanh
cây giá mọc đôi bờ hai con rạch ăn thông nhau nhằm bảo vệ đất cù lao
không trôi ra biển. Cây giá khát nước mưa, trời chìu như sự thưởng
công giữ đất. Lưu dân từ ngũ Quảng vô khẩn hoang lập điền, nghe
thấy vậy, đồng tình đặt tên miền đất mới là cù lao Giá. Đất sống nhờ
nước, cù lao phát triển nhờ rạch. Rạch trữ nước ngọt cận kề biển chứa
nước mặn nên người đời tôn vinh rạch: Ngăn mặn, giữ yên bờ cõi. Từ
đó, thiên hạ gọi Rạch Cây Giá; lâu ngày dài tháng, chữ “Cây” rễ lút
sâu lòng đất chỉ còn hai tiếng gọn hơ: Rạch Giá!
Chủ hàng chất hàng gửi đã xong, con nước anh Sáu chờ cũng vừa
kịp tới. Lúc xuồng tách bến, anh Sáu cười và nói lớn:
– Trời gầm gừ, chớp giựt vào tháng cuối năm... Tui không kêu chú
em che đậy hàng vì, hiểu trời hù dọa chơi; chớ nếu mưa trái mùa, chả
lẽ trời tạo cớ xúi giục vạn vật trần gian đảo điên, ly tán à!
***
Tính ra thì, Tư chìa vôi cũng đã đi bạn với anh Sáu hơn ba cái Tết.
Tư quen dần cảnh vật, nếp sống sông nước miền Nam. Anh Sáu nhiều
lần nhắc nhở: “Cần “để”, không cần “giữ” ý tứ. Nhiêu đó, đủ hòa
nhau và được thuận lòng”. Rồi anh dặn: “Để” phải tinh tường, “giữ”
cái phải giữ, không câu nệ. Anh Sáu thương Tư vì tánh nết hơn vì
cảnh ngộ. Bản chất dân sông rạch không tùy hứng, ngẫu nhiên mà từ,
kinh nghiệm thực tế khi lựa chọn nơi ăn chốn ở cho phù hợp với môi
trường tự nhiên. Anh Sáu nói thêm cho Tư “để ý”:
– Dòng chảy con sông như sợi dây thiên nhiên cột ràng xóm ấp vì
nhà cất: “tiền sông, hậu ruộng”. Chú em nghiền ngẫm rồi sẽ hiểu ra.
Biết đâu sau nầy nó hữu ích khi, chú em muốn chọn nơi lập thân.
Chuẩn bị chở chuyến hàng đêm, Tư hối hả tắm gội, giặt giũ áo
quần trên cây cầu ván gie ra mé sông ở bến sông. Bên kia liếp vườn,
nắng táp hỗn hàng cau mềm rũ lá, thứ nắng người ta thường nói:
“Nắng quái chiều hôm”!
2.
Đêm phù sa đen tối mặt.
Chiếc xuồng vỏ gòn bốn chèo chở hàng về Rạch Giá. Xuồng lướt
gió nước thuận trên dòng kinh xáng Xò No băng ra sông Cái Lớn. Thị
trấn Gò Quao xưa kia, có tên chữ Đại Hà huyện đã ngái ngủ êm đềm
dưới trời sao đồng bằng. Từ sau lái, anh Sáu nhắc:
– Chú em! Cẩn trọng khi tới khoảng giữa rạch Cái Tư, một nhánh
sông Cái Lớn và rạch Cần Thơ ăn ngang thị tứ Vị Thanh.
Tư hiểu ý anh Sáu nhắc “cẩn trọng” là cẩn trọng cái gì. Khoảng
giữa rạch Cái Tư và rạch Cần Thơ tạo nên vùng “đất mật”, dân tứ xứ
đổ xô về kiếm sống, dân chuyên nghề “bối” và “ghe quan” cũng lảng
vảng mò tới kiếm ăn. Ông bà mình thường nói: “Có mật có ruồi, theo
ruồi sẽ đến cầu tiêu”. Bởi vậy, vùng “đất mật” cũng là vùng “đất
đắng”.
– Dạ! Tui biết rồi, anh Sáu!
Tư vừa chèo vừa căng mắt quan sát. Sông nước im ắng lạ thường,
thỉnh thoảng có tiếng cú kêu hoặc tiếng vạc kêu sương rời rạc... Người
nghe ai mà chẳng sợ, chẳng chạnh lòng. Tư mong và rất mong, có
tiếng hò của ai đó, vào lúc nầy, cái sợ sẽ tan đi và lòng thì, bớt chạnh.
Tư nhớ những chi tiết do anh Sáu chỉ vẽ: “Ghe hầu khác ghe điệu
cả hình dáng lẫn kẻ sử dụng. Ghe hầu của đám quan lại, ghe điệu của
bọn giàu có. Ghe điệu mũi lái chạm trổ, kèo mui sơn phết son vàng.
Ghe hầu tàng lọng, về đêm đèn đuốc sáng choang. Hễ nhác thấy hai
loại ghe đó, né lẹ tránh xa; kẻo “tai bay vạ gió”.
Xuồng đang lướt mái chèo ngon trớn. Bỗng, anh Sáu la thất thanh:
“Bát! Bát!...” âm vang giựt dội mặt nước. Chiếc ghe trước mũi chẳng
những không chịu “cạy”[1] mà nó, lao xắn tới. Trên ghe lố nhố năm,
bảy thằng bôi mặt giấu tông tích, chực chờ nhảy qua xuồng. Không
kịp trở tay chèo, Tư la chói lói:
– Bối! Bớ người ta, bối... b... ố... i...
Lấy hết sức bình sinh trung niên, anh Sáu cố “cạy” chiếc xuồng.
– Rầm! Rầm! R... ầ... m...!
Tư văng xuống kinh. Mũi xuồng quay mòng mòng đâm vô chiếc
ghe neo bờ không treo đèn báo hiệu. Đồng thời, cùng lúc, chiếc ghe
của đám “Bối” đụng thẳng hông xuồng. Trời tối, giơ bàn tay không
thấy!
***
– Giờ Tý canh Ba, Bá hộ đi đâu qua hướng rạch Cái Tư?
Huyện Heo nghiêm sắc mặt, hỏi Bá hộ Thao.
– Dạ! Bẩm quan anh, em... e... m...
Bá hộ Thao cà lăm cà lặp một hồi mới nói được, rằng: “Em lặn lội
đêm hôm sương gió là để kiểm tra bất thình lình bọn tá điền bê trễ
việc tá túc[2]”. Huyện Heo ngồi tréo ngoảy, tay xe xe sợi lông tài mọc
trên mụt ruồi đen mép phải miệng. Bởi, huyện Heo thừa biết âm mưu
của thằng Thao “mượn tay quan cướp ruộng đất thằng Sáu”.
Đời trước, ông bà anh Sáu khẩn hoang được mươi mẫu đất và qua
nhiều mùa cấy cày, đất trở nên “ruộng mứt”. Rủi cho gia đình anh,
“ruộng mứt” đó lại nằm cặp ranh đất Bá hộ Thao.
Huyện Heo đập tay xuống bàn.
– Đi kiểm tra bọn tá điền bê trễ việc tá túc, hay léng phéng đi thông
dâm với vợ thằng Biện Tình vậy, ông Bá hộ?
Bị huyện Heo điểm ngay chóc huyệt, Bá hộ Thao đứng chết trân,
trán rịn lấm tấm mồ hôi. Quán tính “đầu trộm đuôi cướp” có từ buổi
chập chững hành nghề trộm bất chợt hiện về, giúp Bá hộ Thao kịp lấy
lại bình tĩnh.
– Thì, em cũng vì muốn mang lợi lộc dâng tặng quan anh, đó thôi!
Miễn sao, quan anh xử nó đi tù và bắt nó bán nhà cửa, ruộng vườn lo
chạy án, lo phí tổn sắm lại cái ghe điệu cho em.
Cặp mắt giống mắt heo của huyện quan lạnh lùng ngó lên trần nhà,
giọng nói không xì hơi qua đôi hàm răng khít rịt:
– Bá hộ khinh khi quan quá mức, tù mọt gông đó, nha!
Nói xong, quan chắp tay sau đít, đi tới đi lui, mặt tai tái, đóng kịch
giận dữ.
– Đẩy vào thế kẹt, nó bán mình mua theo giá mình định. Mình có
cướp giựt của nó đâu, quan rầy rà em quá thể!
Bá hộ Thao tức mình thầm nghĩ: “Mình với va mần ăn nhiều năm,
nào phải lần đầu. Ngay vợ thằng Biện Tình, va cũng mần banh chìa
sứt gọng. Chuyện bọn bối lộng hành khúc sông về miệt Cái Tư cũng
chính va giao kèo bán bãi cho chúng. Lạ thiệt, sao hôm nay, va trở
chứng?”. Nghĩ thì nghĩ vậy, sợ sẩy mồi và hỏng việc mần ăn với quan,
Bá hộ Thao chơi bài ngửa:
– Em bỏ tiền mua, quan khỏi lo!
Bấm bụng nói vậy, chớ trong bụng Bá hộ Thao tiếc tiền hùi hụi và
chẳng phải, Bá hộ Thao mù tịt lai lịch huyện Heo. Huyện quan xuất
thân Hương quản làng Hòa Hưng, họ tên cúng cơm Lê Văn Nạo, con
Lê Văn Ráo. Dân Hậu Giang thời đó, không ai không ngán
“cặp bài trùng Ráo – Nạo”. Tuy đụng gì ăn đó, nhưng ở vùng phù sa
châu thổ không có cái ăn nào ngon lành hơn “ăn đất” và, ăn đất khỏi
cần cạp. Tía con thằng Nạo cố sức ăn sạch sành sanh, ăn ráo nạo; ăn
đến đỗi thành danh: “Heo, ăn như heo”!
Huyện Heo vỗ vai Bá hộ:
– Thôi được, cứ vậy mà mần!
Bầy chim sẻ đậu mái hiên huyện đường, vụt bay tán loạn!
3.
Sau cái đêm hãi hùng đó, anh Sáu bị bắt. Chị một nách nuôi ba con
nhỏ và chăm sóc má chồng. Tư chết đứng, chứng kiến cảnh nhà chị sa
sút dần và có lẽ, chuyện “táng gia bại sản” chỉ là thời gian. Lớp nào
đền tiền chủ hàng, lớp nào bỏ tiền sửa “ghe điệu” của Bá hộ Thao
đang đêm “đi khám điền thổ”; chưa kể “tiền lót lại, đút quan”... hòng
cứu chồng thoát vòng lao lý! Lần hồi, chị cắn răng bán nhà cửa, ruộng
vườn để trang trải nợ nần. Chị nuốt lệ, má chồng khóc hết nước mắt;
còn anh thì, được huyện Heo “chụp cho cái mũ” đội chơi, gỡ bốn
cuốn lịch kể cả năm nhuận, không bớt một ngày, về cái tội “Bối ghe
điệu”; nghĩa là, cướp ghe Bá hộ Thao (!?)
Ghe lui khỏi bến còn dầm
Người thương đâu vắng chỗ nằm còn đây.
(Ca dao)
Đêm khuya khoắt, lời ru con của chị Sáu buồn man mác. Hẳn là, lời
đựng tâm ý thuộc về mẹ, tiếng ru chứa âm điệu thuộc về con. Phù sa
châu thổ từ sông nước mà mênh mông, tình con người từ cảnh ngộ
mà lai láng. Và, “Mật ngọt còn tổ chết ruồi/ Những nơi cay đắng là nơi
thiệt thà”. Họa phúc cùng chia, Tư chẳng thể quay lưng bỏ đi khi chủ
sa cơ thất thế.
Tư gom số tiền tích cóp, dành dụm bấy lâu “đi bạn” đưa cho chị
Sáu mượn dựng quán ở giáp nước rạch Cái Tư. Má chồng chị Sáu, nói:
– Chỗ nào giáp nước, chỗ đó tấp nập xuồng ghe ngược xuôi ghé lại.
Trước là, vô hàng quán ăn uống, nghỉ ngơi qua chuyến đi dài. Sau là,
đợi con nước để đi tiếp. Nó cũng là đầu mối nghe ngóng, trao đổi
“đường đi, nước bước” và, truyền miệng rất nhanh đủ thứ chuyện
trên đời... Người ta gọi đó là, “chợ thông tin”.
Hỏi ra, Tư mới biết, chỗ giáp nước là chỗ con sông đổi con nước.
Buổi trưa, đám trẻ con xóm chợ rủ nhau tắm sông, đứa thả ngửa,
đứa trầm nghịch ở bến đậu ghe xuồng tạo nên hoạt cảnh náo nhiệt,
người buồn mấy cũng vui lây. Tư nhớ lời anh Sáu: “Nghèo khó không
bó cái lạc quan”. Phải rồi, một khi cái lạc quan bị bó thì, “chó cũng bỏ
đi” nói chi tới người. Anh Sáu gặp nạn do nghề hay do nghiệp? Tư
không sao giải nổi. Noi gương người xưa, Tư mượn rượu “phá thành
sầu”. Thành sầu bị phá ở đâu chẳng thấy, chỉ thấy cái sầu đốt cháy
tâm can.
– Bánh lái gãy, xuồng cần tay chèo tỉnh táo. Gia cảnh tui giờ rối
như canh hẹ; suốt ngày chú nhậu li bì... Tui biết mần sao?
Tiếng chị Sáu buồn buồn, nửa khuyên nửa trách.
Tư nhớ hồi chiều, anh em bàn nhậu hỏi:
– Tư chìa vôi, chú mầy thuộc loại “anh Hai xuồng ba lá” hay “anh
Ba ghe chài”?
Tư ngơ ngơ, ngáo ngáo giữa đám cùng “đi bạn”. Tới lúc về nhà học
lại cho chị Sáu nghe, Tư vỡ lẽ: “Xuồng ba lá là người uống được rượu
ít, ghe chài là người uống được rượu nhiều”. Đời cũng có lắm khi
công bằng: “Uống ít, say mau, tỉnh mau. Uống nhiều, say lâu, tỉnh
lâu”. Tư chợt nghĩ: “Kẻ sống đoản hậu sẽ mất cơ may trường phúc”.
Và, hạng người như Bá hộ Thao, dù điền sản mấy ngàn mẫu đất
chẳng kém gì ruộng đất của Tổng đốc Phương ở vùng Hỏa Lựu, Vĩnh
Hòa Hưng... cũng không có cơ may tận hưởng trường phúc, lộc; nói
chi tới trường thọ!
4.
– Nầy con! Giờ thì thằng Sáu đã thụ án, vợ nó cũng tạm sống “gạo
chợ nước sông” đắp đổi qua ngày bằng cái nghề buôn bán lặt vặt để
nuôi con, đợi ngày chồng về. Má tính như vầy, con coi có đặng
không?
– Tính sao, hả má!
Bà nói nhỏ nhẹ:
– Má tính tới mùa lúa sau, lãnh ruộng thầy Cai cho con mần tá
điền; với sức vóc và tính cần cù của con, rồi con chẳng thua kém ai.
Từ lâu, Tư coi má anh Sáu như mạ của mình. Lời má là lời chơn
tình, muốn Tư có việc làm ổn định. Nhưng, Tư không thích trở thành
tá điền để cả đời làm tôi mọi chủ điền. Những tháng năm “đi bạn” và
có lúc thúc thủ “ăn nhờ ở đậu” miền phù sa châu thổ, bằng trải
nghiệm tự nhiên và tự thân, Tư nhận ra “mái chèo, con thuyền” vẫn
hơn “tay cày, tay cuốc”. Sông nước cho người sự phóng khoáng, tự
do; còn đồng ruộng, cho người trực canh ruộng chủ để rồi đói nghèo,
nợ nần lưu cữu, không đủ lúa nộp lúa ruộng. Thân tá điền, dẫu cơ cực
sơn trường, cái ăn quanh quẩn cũng chỉ là: “Vai mang bông súng, tay
cầm củ co” (Ca dao).
– Dạ! Thưa má, con vẫn muốn nối tiếp trở lại cái nghề của anh Sáu.
Đợi anh Sáu ra tù rồi hẵng hay!
Tư rụt rè thưa chuyện với má. Mặt má buồn dàu dàu, chẳng nói
chẳng rằng, hồi lâu má mở lời:
– Má tuy là đàn bà chỉ có phận, không có danh nhưng, vì là người
cố cựu ở vùng nầy nên má biết nhiều chuyện. Đường đi sông rạch
chẳng thiếu cái cân luật lệ, chỉ thiếu cái tâm của người cầm cân. Con
“đi bạn” với thằng Sáu nhà má đã ba cái Tết, nếu con không để ý để
tứ thì, dù con có đi bạn hơn vài mươi cái Tết cũng bằng không. Chỉ là,
“chèo xuồng vọc nước” chẳng hữu ích gì cho tấm thân bám cuộc sống
thương hồ.
Rồi, má chép miệng than thở:
– Luật lệ đường thủy càng chất chồng đống, xuồng ghe càng khốn
đốn trên sông. Má già rồi, không có đứa nào chịu nghe má. Thằng Sáu
nhà nầy, không nghe má mới ra nông nỗi!
***
Tiếng trở mình của chị Sáu, tiếng ho sù sụ của má chồng chị, Tư
thức giấc.
Nằm im trên cái phảng nẹp tre, Tư lắng nghe từng cơn gió lẻ loi
nghịch con nước nơi giáp nước, thổi thốc mái lá xạc xào nửa khuya.
Đâu cứ hễ vấp ngã trên con đường mình đã chọn thì, con đường đó
hẳn là sai. Tư nghĩ lung lắm! Má nói chẳng sai nhưng, cái chẳng sai đó
còn tùy thời. Xuồng ghe coi vậy, vẫn là cái thuộc về mình; đồng ruộng
“thẳng cánh cò bay” dẫu sao, vẫn là cái thuộc về người. Tư cân phân,
nhắc lên bỏ xuống lúc buộc phải đối mặt với sự chọn lựa: Thương hồ
hay tá điền! Và, bất chợt, Tư nghe văng vẳng lời anh Sáu căn dặn hồi
nẳm: “Tiền sông, hậu ruộng” một khi đã tới lúc lập thân.
Tư bồi hồi nhớ thân côi cút từ nhỏ, cơ cực cũng lắm, đắng cay cũng
nhiều. Tuổi thơ của Tư thả theo dòng sông Bồ trôi qua vùng đất
Quảng Thọ. Xứ ruộng lúa mà quanh năm suốt tháng dân vẫn thiếu
ăn. Rồi, Tư nhớ anh Sáu, nhớ những chuyến đò dọc không chở người
chỉ chở hàng, nhớ trăng đồng bằng rụng xuống lòng nước lung linh,
mang bao câu hò tình tứ đầm đậm tình quê. Nỗi nhớ day dứt và mênh
mông! Tư rưng rưng nước mắt, giận Trời bất công: “Anh Sáu nào phải
kẻ gian, sao Trời bất dung?”.
Tư bước xuống bến sông, xuồng ghe đông ken nằm chờ con nước
và bầu trời, hằng hà sa số sao cũng không đủ sáng soi thấu đêm phù
sa châu thổ!
THƯƠNG QUÁ, BÀN TAY ÐEN CỦA MÁ!
1.
"Hồi ngoại còn sống, những lúc rảnh việc phơi lụa, ngoại
thường kể chuyện về má...” Khan nói giọng buồn buồn với Khát như
vậy. Mỗi lần lên chùa lạy Phật, “xin keo”, trên đường về, bao giờ hai
đứa cũng cùng im lặng trong suy nghĩ giống hệt nhau: “Cái tên khởi
sự từ “Kh”, có phải đó là điềm vận mạng gắn liền với “khổ” cuộc đời
chăng?”.
Còn cha còn mẹ thì hơn
Mất cha mất mẹ như đờn đứt dây.
(Ca dao)
Hai đứa ngu ngơ không biết và chẳng ai giải mã giúp hai đứa biết
tường tận, kể cả sư cụ chùa Từ Vân.
Ánh sáng tù mù khói muội đèn thiếu sức soi tỏ mặt người, nói chi
tới cảnh vật xung quanh. Bóng Khan chập chờn in vách lá. Bằng đôi
tay người thợ, Khan đưa kén vào nồi nước đun sôi; tiếng nước réo
ùng ục hay tiếng kén đau trở dạ để người thợ kéo mối tơ mắc vào
bánh xa quay! Khan lụi hụi, một tay cầm đôi đũa khuấy “liên tu” nồi
kén, một tay quay đều “bất tận” đầu bánh xe. Dừng tay khi, chỉ còn
lại xác con tằm và Khan thì, thở hổn hển, mồ hôi vã ra như tắm.
Khan ngồi dựa lưng cột nhà. Đêm sắp tàn canh!
***
Hai Hậu mồ côi từ nhỏ. Hàng xóm rủ nhau chuyền tay nuôi gọi là
“nuôi chuyền” và bú vú dạo, gọi là “bú nhép”. Tới tuổi nhổ giò, Hai
Hậu theo những người anh em rời đất Tịnh Biên lên Vồ thuộc núi
Cấm, không mần ăn mà mần quốc sự. Cuộc chống Tây bất thành,
Thiên Địa hội tan rã nhưng, bọn Tây cũng không thể nào càn và chiếm
được Năm Vồ[3], còn gọi Năm Chỏm cao hoặc Năm Non trên núi
Cấm. Hai Hậu cùng một ít người anh em nương náu ở miếu Gia
Long[4] và lẩn trốn trong khu rừng cây Thiên tuế, tiều phu hay gọi “vồ
Thiên Tuế”. Chịu không thấu “sơn lam chướng khí” của vùng núi non
Thất Sơn huyền bí, đôi lần, Năm Thiệt, Sáu Thà dợm rủ Hai Hậu quay
về Tịnh Biên nhưng, ngại lộ tông tích. Bí lối, cả ba đồng lòng trốn
xuống miệt Tân Châu sống nghề cơ bắp, kiếm cái ăn đắp đổi qua
ngày.
2.
– Bậu ngó gì ngó “người ta” dữ vậy!
Tư Nghĩa liến thoắng hỏi Hai Hậu, trong lúc đôi tay của Tư tỉ mẩn
kéo từng đường tơ, xe chỉ thành từng sợi liền lạc và hầu như, không
mắc phải một mối nào bị lỗi.
– Tui ngó bàn tay của “người ta”! Bàn tay đẹp mĩ miều làm nên lụa
láng mịn: “Ấm những ngày trời se se lạnh và mát những ngày nắng
hầm hập nóng!”.
Tư nghe tiếng đặng tiếng được bởi âm thanh khung cửi dệt rầm
rập, lấn át lời Hai Hậu.
Chiều bảng lảng trên cánh đồng dâu bát ngát! Chợt, có tiếng chàng
trai cất giọng hò ướm mời cô Tư Nghĩa:
Trai nào hiền bằng trai Hai Huyện
Tháng ngày chuyên dệt lụa trồng dâu.
(Ca dao)
Như thể cầm lòng không đậu, Tư mạnh dạn hò đáp trả liền miệng,
người Tân Châu gọi là “hò môi”:
Gái nào thảo bằng gái Tân Châu
Thờ cha kính mẹ quản đâu nhọc nhằn.
Chàng trai bên kia liếp vườn mặc nưa, nín bặt.
Tự dưng, Hai Hậu cảm thấy lòng mình se thắt lại. Nhỏ lớn, Hai
không quen nói thơ, nói truyện thì nói chi tới biết hò môi, hát miệng…
nên lòng luống những bán tín bán nghi. “Trai Hai Huyện” là trai gì
mà “tháng ngày dệt lụa trồng dâu”? Vậy, trai như mình chả lẽ không
phải trai trồng dâu dệt lụa? Trời khuya lắc khuya lơ, Hai thao thức
không sao chợp mắt được. Biết thằng đệ đương sa vào “tình trường”
vì đã phải lòng Tư Nghĩa, Năm Thiệt lồm cồm lật mí nóp, bò dậy.
Huynh đệ nói chuyện thầm. Ngoài kia, sóng sông Tiền dội bờ lúc nhặt
lúc khoan như thông nỗi cảm hoài cùng người xa xứ. Năm Thiệt nói:
– Theo bậc cao niên và giới thương hồ ở Chợ Mới (An Giang) thì
Hai Huyện còn được gọi miệt Chợ Thủ hoặc miệt Cù lao Ông
Chưởng; cũng có người lầm tưởng Chợ Thủ là chợ ở miệt Thủ Dầu
Một. Ông Chưởng chính là Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh[5]. Chẳng
có chi phải lo, dẫu rằng đệ chưa ở rể:
Công anh làm rể đốn rào
Tào lao phất ngọn, chớ nào vợ anh.
(Ca dao)
Thấy thằng đệ bó gối ngồi cú rũ, Năm Thiệt nhắc câu Tư Nghĩa
thường khi hò:
Giả đò mua khế bán chanh
Giả đi đòi nợ thăm anh đỡ buồn.
(Ca dao)
Trời rựng sáng. Tiếng cười giỡn rộ mé bến sông của “đàn thôn nữ”
đang xả lụa. Ý chừng có tiếng cô Tư hò, nhờ gió sớm gửi đến cho ai
đó:
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
(Ca dao)
***
Mỗi lần má nó vạch vú mớm sữa, con bé giẫy nẩy không bú dù
miệng khô, khát sữa… Tư Nghĩa lặng người, nhỏ từng giọt buồn trôi
theo dòng nước mắt ướt má con. Con bé năm tháng tuổi, kinh hãi khi
nhận ra cái màu đen tuyền phủ đôi bàn tay không thấy móng. Ngoại
đặt tên cháu là Khan. Có lẽ, vì thương ba của cháu, ngoại tỏ ý trách
cao xanh: Thằng rể không phải kẻ gian, sao nỡ xử nó cái kiểu “Trời
bất dung gian”! Còn bọn gian, nhiều hơn mặc nưa vào mùa trái giữa
tháng Năm lịch nhà nông thì, trời giả lơ ngoảnh mặt?
Hễ thấy bàn tay đen kịt của má, nó khóc ngất. Từ đó, người mẹ
không dám gần con, sợ làm tuổi thơ của con kinh động.
Ngoại kể rằng, cả xóm Long Hưng hầu như là “Ăn cơm đứng” bởi,
“Mần ruộng ăn cơm nằm/ Nuôi tằm ăn cơm đứng” (Tục ngữ). Thời
con gái má Tư của nó nổi tiếng giỏi giang. Ngoại đẻ ba đứa con, chết
hai... Tuy má Tư thứ tư nhưng, thứ tư đó là một. Ông ngoại mất sớm
vì lao lực. Bà ngoại cùng con gái, đùm túm nhau sống; chí thú theo
nghề nuôi tằm, dệt lụa trong xóm lụa nức tiếng lãnh Mỹ A.
Ngoại nói:
– Trước ngày “Loan phụng hoa chúc”, ba má con xin phép ngoại
sang đình Long Sơn thắp nhang thần bổn xứ. Trên đường về, ba con
nắm bàn tay tơ lụa của má con, rồi thề nguyền: “Qua đình ngả nón
trông đình/ Đình bao nhiêu ngói (tui) thương mình bấy nhiêu” (Ca
dao). Vậy mà, trời cao đành đoạn bắt ba con “đi về núi” sau một đêm
cảm lạnh sơ sài, khiến má con “đứt gánh giữa đường” đang khi “bụng
mang dạ chửa”. Má con “vượt cạn” một mình. Rồi, hai năm sau, ngoại
chịu cảnh “tre già khóc măng non”. Và, vĩnh viễn cháu ngoại của
ngoại, không còn dịp ngó thấy bàn tay đen kịt của má để kinh sợ!
Khan đã khóc như chưa bao giờ được khóc khi nghe ngoại kể về
má!
3.
Ngoại mất vào mùa bông mặc nưa trổ sắc vàng nhạt trên những
tầng cây cao trật ót. Bông cái đơn lẻ, bông đực từng chùm. Và, Khan
bây giờ cũng đã là thiếu nữ.
Những tàu lá dừa, những bãi cỏ xanh mượt... cõng những tấm lụa
sóng sánh phơi nắng đồng bằng trông lãng mạn, rất đẹp; nhưng,
chẳng thể lãng mạn và đẹp hơn lúc tằm chín mọng, đưa tằm lên bủa
giăng tơ. Đất trời Long Hưng vàng óng những bủa tơ tằm. Nắng
nghiêng màu chiều pha màu lam ngọc trái mặc nưa, một thứ trái “vừa
khó tính vừa chảnh, vừa nắng không ưa vừa mưa không chịu”; một
thứ trái lúc xanh dư nhựa, lúc chín tới hết nhựa; và chỉ thích đối xử
bạc bẽo, không thích nuông chìu. Nghĩ tới trái mặc nưa, lòng Khan
chùng xuống; nhớ má bao nhiêu thì Khan thương đôi bàn tay đen của
má bấy nhiêu. Đôi bàn tay đen đánh đổi miếng ăn trong trắng. Khan
đã từ chối bú sữa má và khóc ré kinh hãi khi thấy đôi bàn tay đen đó!
– Lẽ thường tình, nếu những gì cần mất mình cho mất để đạt chuẩn
đẹp cuộc đời thì, bàn tay đen tuyền của má đã tạo sự duy mỹ riêng có
lụa Tân Châu qua nhựa trái mặc nưa thành nhan sắc!
Khan suy nghĩ như vậy, lúc thẩn thơ một mình dưới những vòm
cây mặc nưa thân xù xì cổ thụ.
***
Chẳng hiểu vì sao Khan thích nghề nhuộm lụa. Một nghề cần sức
lực cơ bắp cánh đàn ông. Cái nghề mà ngày xưa, má của Khan chấp
nhận bỏ đôi bàn tay đẹp nhất xóm Long Hưng để cùng chồng nhuộm
lụa. Có người cho đó là, di truyền và cũng có người nói đó là, truyền
thống. Di truyền hay truyền thống, chẳng quan trọng đối với Khan.
Theo nghề của má, Khan thương bàn tay đen tuyền của má, thương
xóm quê nghèo và làm theo di nguyện của má: “Giữ vững thương
hiệu lãnh Mỹ A xứ sở!”.
Khát đứng đầu hồi nhà nói vọng sang, nhắc:
– Khan ơi! Đêm nay, trời có trăng, tụi mình tới phiên nện hàng rồi
đó, nhớ nha!
Lãnh muốn có độ bền, bóng loáng phải chịu lực nện từ búa gỗ lên
bề mặt sợi vải. Tiếng nện hàng nhịp nhàng trong đêm thanh vắng, tạo
cảm giác êm đềm, luyến láy hồn quê. Từng sợi tơ thấm đều, thấm sâu
màu đen bóng thì mười ngón tay người nhuộm cũng đen bóng như
sợi tơ kia. Và rồi, đôi bàn tay của Khan giờ đây nào khác chi đôi bàn
tay của má ngày trước.
Trong lúc nện hàng, bỗng nghe tiếng chàng trai giã trái mặc nưa hò
bóng gió:
Nện hàng em nện mạnh tay
Phải duyên chồng vợ anh mai mối mình.
(Ca dao)
Khan dư sức biết anh chàng đương hò đó là ai và rõ là ai, từng hò
“thả dê” qua ruộng dâu hàng xóm:
Quay tơ phải giữ mối tơ
Dù năm bảy mối cũng chờ mối anh.
(Ca dao)
Khát cười khúc khích:
– “Chịu đèn” rồi đó, bạn ơi!
như san sẻ nỗi cô quạnh của đứa bạn thân nhứt xóm.
***
Khan xòe bàn tay soi bóng đêm. Nỗi ám ảnh bàn tay đen của má ùa
về. Rồi ngày mai, con của con sẽ như con: “Khóc ré khi thấy bàn tay
đen...” dù bàn tay đen đó, chưa hề dơ và làm nên kỳ tích lừng danh
lụa quê nhà!
Bất chợt, đôi bàn tay đen bóng của Khan bám chặt lư hương thờ
má:
– Má ơi...!
CON NƯỚC MIỀN QUÊ
Phải ai giao hợp vợ chồng
Phải ngày con nước khó lòng nuôi con...
(Ca dao)
1.
Hai Xệ ngồi chò hỏ canh con nước dưới gốc bằng lăng già mọc
ven rạch Bắc Chang. Một con rạch thông nước từ sông Vàm Cỏ Tây
chảy qua làng mạc tới ngã tư Bào Môn, tạo cánh đồng phía Tây gò
Ông Giáo bạt ngàn ruộng lúa. Lắm người phương xa quá bước, thắc
mắc: “Sao lại phải canh ngày con nước?”. Thôn dân vốn gốc gò Bắc
Chiêng thời đàng cựu tới giờ, chỉ cười trừ chớ không giải thích bởi có
giải thích, chắc chi người phương xa đã hiểu.
– Xế rồi, mình! Vô nhà ăn cơm cái đã!
Nghe vợ gọi cơm, Hai nói vói theo:
– Thì, mình với sắp nhỏ cứ ăn cơm trước đi!
Ngoài rạch, nắng táp nước dội ngược bóng treo nắng lơ lửng lên
từng chòm cây, nách lá!
***
Tía thằng Hai dặn con:
– Mình sống được là nhờ nước và muốn được sống, phải biết giữ
nước ngọt, rồi nhẫn nhục mà gạn đục khơi trong. Nước có con chớ
tuyệt nhiên không có thằng, thiên hạ gọi là con nước. Con nhớ lấy nếu
thiệt lòng ham mần ruộng và mong mỏi trở thành thôn dân thứ thiệt.
Hai ngại hỏi vần lân với tía dù những lời tía dặn nó không rõ, nói
chi đến thông để hiểu.
Một hôm, chú Năm Tâm chèo ghe tam bản từ Mộc Hóa vô gò Năm
Chiêm thăm ruộng. Chú cháu gặp nhau ở cống Biện Minh. Rít mấy
hơi thuốc rê, chú Năm lau mồ hôi ướt mặt, hỏi nó:
– Lóng rày, tía má con khỏe không? Tía con, tính đã dễ chưa?
Tháng Chạp tiết trời trở lạnh trong cái nắng thiếu gắt, thừa gay,
khiến mình mẩy bứt rứt khó chịu. Nó bập bập điếu thuốc để xua bớt
phần bứt rứt nhưng vì chưa quen khói nên ho sặc sụa.
– Dạ! Mọi thứ tía con đều dễ, chỉ trừ...
– Chỉ trừ má con, phải hôn?
Chú Năm ngắt ngang lời nó và đế câu kết chắc nụi. Nó nguẩy
người không chịu.
– Tía con khó, rất khó chuyện nước nôi!
Năm Tâm nghe thằng nhỏ nói hơi lạ nếu không muốn nói là kỳ
cục! Thuở đời nay, đất Bắc Chiêng thuộc xứ Đồng Tháp Mười “nước
tới mùa, nước nổi tràn bản họng”. Rồi bất chợt, ông ngẫm và nghĩ ra
cái sự đời “con nước” ở miền đất “sáu tháng đi chưn, sáu tháng đi
tay”[6].
Dân Bắc Chiêng hồi trước lúc có Thiên hộ Dương khởi cuộc chống
Tây, họ bấm lóng tay tính con nước như là, lực tương tác của ba cái
mặt: Trăng – Trời – Đất. Và cũng từ đó, họ tính chuyện may rủi trong
cuộc sống thường ngày. Con nước lên tự nó không xấu, nói chi tới hổ
thẹn. Điều xấu và hổ thẹn cốt ở “Ngày con nước lên”.
Ngày con nước lên chính là, hành động của Tạo hóa!
– Chú Năm ơi, chú nghĩ gì mà sắc mặt nghiêm trọng giống “Bao
Công xử án Quách Hòe” do gánh hát bội “Sóng Vang” hát, hôm cúng
kỳ yên ở đình làng, vậy chú?
Thằng Hai vô tình phá đám làm đứt khúc dòng suy nghĩ của Năm
Tâm, đương ngon trớn chảy băng băng về phía trước.
2.
Cột xong dây vàm mũi ghe tam bản vô gốc tràm, Năm Tâm bước
qua cầu nước rửa chưn, rồi theo Hai Xệ leo lên cái nhà nửa dính liền
đất, nửa chồm ra mé rạch.
– Chú Năm mầy, tới chơi!
Ông Chín Cứng, tía thằng Hai, đánh tiếng chào rôm rả.
Gió lùa nắng nhảy xổm vào nhà khua lụp cụp, lạc cạc hệt tiếng
nước cơm sôi, tai ai nghe mà cầm đặng lòng không đói bụng.
– Mình ơi! Lo cơm trưa cho chú Năm, thằng Hai, nha!
Đoạn ông bước tréo mở cửa hông tủ thờ, lôi hũ rượu ngâm bìm
bịp.
– Chú Năm mầy, khởi động đi!
– “Tiên chủ hậu khách”, chớ anh!
Một người cao niên đương “gần đất xa trời”, một kẻ trung niên
đương “lưng chừng trời đất” cùng phá lên cười, tiếng cười dội vách
nẹp tre gây thanh âm rộn ràng phải lẽ tình thâm.
Thằng Hai lực tráng niên, lui cui lo phụ má dưới bếp.
– Má! Hồi ban sớm, con nghe lén chú Năm nói lầm thầm ba cái
mặt: “Trăng – Trời – Đất”. Vậy, ba cái mặt là mặt sao, hả má?
Bà Chín cười, nụ cười hiền như cục đất.
Thời gian trôi qua gần bằng thời gian củi thành than tàn lửa, bà
chậm rãi nói với con:
– Trời có cái mặt thì, Trăng và Đất tại sao không? Trăng – Trời –
Đất ở thế chưn vạc, kiềng ba chưn. Nếu là “Bửu”, hẳn là “Tam Bửu”;
nếu là “Ngôi”, hẳn là “Ba Ngôi”; nếu là “Nước”, hẳn là “Tam quốc”...
Khi Trời – Trăng kết hợp và nhất là, lúc Trời chìu lòng Trăng thì, Đất
hoàn toàn bị Trăng khống chế bằng lực hút. Nước từ Đất trồi lên.
Có tiếng hối thúc dọn cơm của ông Chín, bà ngưng ngang câu
chuyện đương nói với thằng con.
***
– Mình sống vùng sông rạch nhờ nước, phải hiểu con nước mới
sống được, nha chú Năm!
Rượu vào lời ra, ông Chín Cứng nhắc người bạn trung niên của
mình. Thằng Hai đứng xớ rớ hóng chuyện và chờ tía sai vặt.
– Hồi nãy, má con mầy thì thầm chuyện gì mà xem ra tương đắc?
Ông bỏ bộ xoay qua hỏi thằng Hai. Nó thuật lại chuyện Trời –
Trăng – Đất của má nó nói nhưng, chỉ nói nửa chừng... không phải
“để cho thằng dại nửa mừng nửa lo”, chỉ là, vì tía hối dọn cơm.
Ông cười banh càng tấm lá chằm thảo bạt chống cửa. Ông ngộ ra:
Má thằng Hai tuy dốt chữ nhưng sáng dạ, những gì ông nói bà nghe
và thuộc lòng. Hễ thuộc cũng có nghĩa nhuyễn nhừ, chẳng thể nào
quên!
– Nước lên từ những ngày Trăng non và Trăng tròn. Nước có lên
thì, tất nhiên phải có xuống và nước xuống, thường rơi vào thứ bảy
của tuần Trăng.
Năm Tâm góp chuyện theo kinh nghiệm nhà nông theo dõi con
nước. Ông Chín tiếp lời:
– Đất chẳng hề thụ động chịu trận cho Trăng chủ động hút. Trăng –
Đất tương tác cùng hút lẫn nhau và chỉ có vậy, nước trào lên... Sống
trên mặt Đất, Người tránh sao khỏi tương tác, tránh sao khỏi liên lụy.
Bà Chín réo thằng Hai xuống bếp, giúp một tay bưng thêm thức ăn.
– Mời chị Chín cùng ăn cơm luôn thể!
– Chú ăn cơm với tía thằng Hai. Lát nữa, má con tui ăn sau.
Bà nói lời thiệt tình và nhắc chồng: “Rót tiếp rượu cho chú Năm, đi
ông!”. Bầu không khí vui và ấm, ngập căn nhà đơn sơ ngó ra cánh
đồng tràn nắng. Bà muốn nói với tía thằng Hai và chú Năm, rằng:
“Trăng – Đất càng gần nhau, sức hút càng mãnh liệt. Sức hút càng
mãnh liệt thì, với thể trạng con người hầu hết tám mươi phần trăm là
nước, tránh sao thoát khỏi sự kích động và chao đảo!”.
Ngồi nép mé bộ ván, bà suy nghĩ mông lung về điều kỳ diệu có khi
đưa đến sự mê diệu do Thượng đế tạo ra. Trong lúc đó, trên mâm
cơm ông Chín đương cắt nghĩa: Trăng non, Trăng chín, Trăng già
hoặc giả Trăng đầu, Trăng rằm, Trăng cuối. Trăng gần Đất hơn Trời,
lợi thế đó khiến Trăng hấp lực Đất kinh động; đồng thời đè nặng Tâm
– Sinh – Lý con người.
Nghe ông nói, bà đỏ mặt thầm. Bởi, những đêm trăng non, trăng
tròn lòng bà luôn luôn rạo rực... Tâm tính thay đổi, lời suồng sã, hành
vi thiếu kiểm soát; may là tía thằng Hai cũng vậy. Nếu không, qua
đêm trăng chắc bà mắc cỡ chết!
Năm Tâm hỏi ông Chín:
– Rõ là, “Con nước” vốn riêng có của thôn dân xứ mình?
– Phải đó, chú!
Dân gian xứ nước nổi của tụi mình lưu truyền: Ngày con nước lên
là ngày cực xấu, mần chi cũng chẳng đặng. Vì vậy, mới có câu “Dù ai
buôn bán trăm nghề/ Phải ngày con nước đi về tay không” (Ca dao).
Con nước có lúc thịnh lúc suy, lúc lớn lúc ròng, lúc ươn lúc nhửn, lúc
giáp lúc chia... Thời Trăng, tùy Đất mà sinh Âm – Dương (?).
– Trăng xoay con nước, trăng tác động con người. Chẳng ngẫu
nhiên mà ông bà mình dặn: “Trai mùng một, gái hôm rằm/ Nuôi thì
nuôi vậy, nhưng căm dạ nầy” (Ca dao), trong việc sinh con đẻ cái.
Lý cùng lẽ tận, nước là sự sống nhưng, con nước mới là cách sống
trong sự sống. Bà muốn nói điều đó, sợ e rằng, tía thằng Hai và chú
Năm cho bà lên đời dạy đạo, nên thôi!
SÀI GÒN CHẨN TẾ TRAI ÐÀN
1.
Tôi vốn người Sài...
 





